Vườn ÊĐen Mới | Tuyển Tập Viết Cho Niềm Tin 2016
















MỘT CHUYẾN ĐỔI TIỀN - Nắng Ấm Mùa Xuân
Ngày 21/11/2016

Khi chúng tôi đang học năm cuối trong Cao-đẳng Sư-phạm, thì một buổi sáng kia, bỗng nhà trường thông-báo rằng toàn bộ sinh-viên phải ngưng việc học, và tập-trung tại trường ngay trong buổi trưa hôm ấy, để chuẩn-bị cho một chuyến công-tác kéo dài khoảng vài ngày. Tất cả các sinh-viên đều ngạc-nhiên và nhốn-nháo hẳn lên, vì chuyện nầy chưa bao giờ xảy ra từ trước cho tới nay. Hơn nữa, đó không phải là một đề-nghị, hay một yêu-cầu của nhà trường, mà nói cho đúng ra thì nó là mệnh-lệnh, và tất cả các sinh-viên đều có bổn-phận phải chấp-hành. Nhưng chúng tôi đi công-tác ở đâu? Không ai biết! Chúng tôi phải làm công-tác gì? Cũng không ai biết! Dù vậy, tất cả đều phải đi, và chỉ có những trường-hợp hết sức đặc-biệt thì nhà trường mới cho phép miễn công-tác. Có lẽ trong trường của chúng tôi chỉ có một vài người thuộc diện đặc-biệt nầy, như những người đang đau yếu, hoặc những nữ sinh-viên phải ở nhà chăm sóc con chẳng hạn. Mỗi người chỉ cần chuẩn-bị cho mình một vài bộ đồ và những dụng-cụ cá-nhân trong chuyến đi nầy, còn nơi ăn và chốn ở thì đã có nhà nước lo tất cả.

Đương nhiên là có nhiều người đặt câu hỏi về chuyến công-tác nầy, và bàn-tán xôn-xao trong các lớp, nhưng cuối-cùng rồi thì cũng không ai có lời giải-đáp. Tất cả chỉ là những câu hỏi và những lời giải-đáp mơ-hồ mà thôi. Một vài người lại tỏ ra im lặng một cách bất thường, có lẽ vì trong tâm-trí họ đã nghe nói tới một điều gì đó, nhưng họ tuyệt-đối không hề dám hé môi, cho dù đó chỉ là những tin đồn đi nữa. Còn đối với đại đa số sinh-viên chúng tôi thì chẳng có gì phải bận tâm suy-nghĩ, nhất là đối với những chuyến đi mà nhà nước hứa bảo-đảm như vậy. Ngoài ra, chúng tôi còn được hứa là mỗi ngày công-tác của chúng tôi sẽ được bồi-dưỡng một cách hợp lý nữa.

Cho nên, khi buổi trưa vừa đến thì sân trường của chúng tôi đã nhốn-nháo hẳn lên với sự có mặt của 3.000 sinh-viên, người nào cũng mang theo một cái túi xách là hành-trang cho chuyến đi của mình. Đương nhiên là chúng tôi đã ăn cơm trưa ở nhà, và mặc dù có hơi hồi-hộp, nhưng nói chung là ai nấy cũng không mấy lo, vì có tới cả ngàn sinh-viên cùng đi với mình. Nếu có sinh-viên nào thích cảm-giác mạnh, thì đây là một cơ-hội để họ thể-hiện bản tính của mình.

Khỏi trưa, chúng tôi được chỉ-thị là toàn thể các sinh-viên phải tập-trung ở dưới sân trường, và tuyệt-đối không một sinh-viên nào được có mặt trên các tầng lầu. Thế là lập-tức mọi người đều hối-hả xuống sân sau khi đã đóng tất cả các cửa sổ của phòng học, để không ai có thể từ trong trường nhìn ra bên ngoài hoặc từ bên ngoài nhìn vô trong trường được. Như vậy, ở bên ngoài nhìn vào, người ta sẽ thấy hoàn toàn im-ắng, như một ngôi trường vào mùa hè vắng học-sinh, hay như một ngôi trường đã đóng cửa từ lâu vậy, nó hoàn toàn biệt lập với thế-giới bên ngoài. Ít có ai ngờ rằng ở dưới sân tràn lan sinh-viên đang ngồi thứ-tự theo từng khu-vực của các khoa, các lớp, với đủ những lời bàn tán xì-xào. Nhờ bóng mát của hàng trăm cây-cối quanh sân trường mà khoa nào cũng có thể tìm được một vị-trí ngồi ổn-định lúc xế trưa.

Sau khi đã “bế quan tỏa càng” ngôi trường với thế-giới bên ngoài, thì nhà trường mới dùng micro để nói chuyện với các sinh-viên. Đương nhiên là âm-thanh của micro phải bảo-đảm để chỉ những người ở trong trường mới có thể nghe được mà thôi. Lúc ấy nhà trường mới “bật mí” rằng công-tác mà chúng tôi sắp tham gia đó là “đổi tiền”, thì tiếng “ồ” vang lên từ cửa miệng của 3.000 sinh-viên trên khắp sân trường. Nói chung là ai nấy cũng cảm thấy bất ngờ, mặc dù có một số người nói rằng: “Thấy chưa, tao đã đoán đúng chứ bộ!” và đặc-biệt là một vài người nói rằng: “Chuyện nầy đã rò-rỉ từ mấy ngày qua rồi, và chúng tôi đã nghe nói tới!” Giờ đây thì người ta mới hiểu được vẻ căng-thẳng của họ khi không dám tham-gia vào những lời đồn đoán trong lớp. Những người khác dám bàn tán vì họ chỉ tưởng-tượng, nhưng vì chính họ đã nghe được thông-tin nên tốt nhất là không nên nói gì cả. Họ sợ rằng nếu mình lỡ nói ra mà đúng sự thật thì sẽ bị “chụp mũ” là phản-động chăng? Như vậy thì công-tác đặc-biệt quan-trọng nầy đã bị hàng ngũ cán-bộ cao cấp “đem đi bán” cho các đại-gia, hoặc họ tự thông-báo cho nhau một cách bí-mật để có thể giữ-gìn tài-sản. Chính vì vậy, họ đã tung ra một số tiền quá lớn để mua vàng, cho nên người dân cảm thấy hồ-nghi và đồn đoán rằng sắp có đổi tiền.

Vừa sau khi đã thông-báo về bí-mật của công-tác và các sinh-viên đang bàn-tán nhốn-nháo trên sân trường, thì nhà trường lại ra tiếp một chỉ-thị về việc “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Không một người nào được phép vào ra cổng trường nếu không phải là công-tác đặc-biệt, và nhà trường cũng hết sức cảnh-giác để không một sinh-viên nào có thể lén lên lầu mà ra tín-hiệu cho những người ở bên ngoài. Họ muốn cho công-tác được giữ bí-mật một cách tuyệt-đối, theo như chỉ-thị từ cấp trên, mà không quan-tâm rằng nó đã bị rò-rỉ từ trước. Sau đó, lại có thông-báo rằng các sinh-viên sẽ ăn cơm chiều do nhà trường cung-cấp tại chỗ, và tối nay sẽ được đưa tới những nơi công-tác. Những nơi được xác-định là ngoại-thành như Hóc-môn, Gò-vấp, Bình-chánh…, thì chia ra cho từng khoa, từng lớp, và đơn-vị nhỏ nhất là tổ chừng bốn năm người, sẽ được đưa tới những trạm đổi tiền.

Như vậy thì tâm-lý của chúng tôi đã được giải-tỏa thật dễ chịu, và chúng tôi còn có cả một buổi chiều cũng như một buổi tối tự-do “trong sân trường” trước khi được đưa đến nơi công-tác. Buổi cơm chiều mà nhà trường đãi chúng tôi là bánh mì thịt. Nhưng đối với giới sinh-viên chúng tôi thì như vậy là quí lắm rồi, cùng với những thùng trà đá được nhìn thấy khắp sân trường mà ai cũng có thể uống no-nê.

Buổi chiều hôm đó là một kỷ-niệm khó quên, khi một ngày sắp trôi qua mà chúng tôi không phải học-hành gì cả, nhưng cứ thoải-mái mà chuyện trò với chúng bạn. Nhất là khi đêm tối mát-mẻ kéo về trên sân trường, khiến cho ai nấy cũng cảm thấy dễ chịu, và những chuyện vui được kể cho nhau nghe đã khiến cho tuổi trẻ chúng tôi phải “cười ra nước mắt” từ giờ nầy qua giờ nọ. Cho nên người ta có thể nói rằng “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học-trò” là như vậy, cho dù chúng tôi đã trở thành những sinh-viên đi nữa.

Để tạo khí-thế cho công-tác đang triển-khai, nhà trường bèn tổ-chức đốt lửa trại và mời những sinh-viên có giọng hát hay để thi-thố tài-năng của mình. Đương nhiên rằng đây là một cơ-hội cho những người ấy, vì có mấy khi mà họ được hát trước toàn thể sinh-viên đâu, mà nhất là trong một buổi tối thoải mái như thế. Chúng tôi cứ cười nói vui đùa như vậy cho tới khoảng 9 giờ tối, khi sương đêm đã bắt đầu rơi xuống từ bầu trời trong với những ngôi sao lấp-lánh, thì từng đoàn xe tải cũng kéo đến trường để đưa chúng tôi đến vị-trí công-tác. Trước đó, chúng tôi đã biết rằng khoa của mình phụ-trách khu vực Gò-vấp, và từng lớp được chia ra thành nhiều tổ bốn người, để phụ-trách tại một địa-phương nhỏ nào đó. Tới khoảng 10 giờ thì tổ của chúng tôi cũng đã leo lên một chiếc xe tải và được nó chở đi trong đêm tối. Ngoài những người lái xe ra thì cũng có một vài cán-bộ, có lẽ là tại Gò-vấp, cùng đi với chúng tôi. Chúng tôi không quan-tâm cho lắm tới những gì xảy ra ở bên đường, mà cho dù có quan tâm thì cũng khó lòng mà nhìn thấy được một điều gì trong đêm tối. Khi xe đã gần tới nơi, chúng tôi nhìn ra ngoài thì có thấy những người dân ở bên các con đường nhỏ đang đứng như để chờ nhìn thấy chúng tôi vậy. Nguồn tin về việc đổi tiền đã được nhà nước thông-báo chính-thức chưa? Chúng tôi không biết! Nhưng cũng có thể vì lâu lâu người ta mới nhìn thấy một chiếc xe tải, cho nên họ mới ngạc-nhiên mà đứng nhìn chúng tôi vậy thôi.

Chiếc xe tải từ từ ngừng lại gần một ngã tư nhỏ, và cuộc hành-trình của chúng tôi xem như kết-thúc. Chúng tôi lần lượt bước xuống xe và được mời vào một căn nhà bên vệ đường, là nơi mà người ta dùng làm trạm đổi tiền. Nó chỉ là một ngôi nhà bình thường và thật ra thì là nhà của một cán-bộ tại địa-phương đó mà thôi. Chỉ có một việc duy nhất mà chúng tôi cần phải làm đó là tắm rửa và chuẩn bị đi ngủ để sẵn-sàng cho những công việc bề-bộn vào sáng mai. Cùng tập-kết về trạm đổi tiền với chúng tôi là một anh đối-tượng Đảng ở dưới quê lên. Nhìn qua thì người ta có thể nhận xét rằng anh ấy là một người thông-minh và có nhiều năng-lực. Mà có lẽ cũng chính vì vậy cho nên mặc dù chỉ lớn hơn chúng tôi một hai tuổi, mà anh ta đã leo lên được đến vị-trí đó. Chúng tôi chỉ có thể làm quen với nhau một cách sơ-sài vì lúc đó đêm cũng đã khuya. Chủ nhà có tới mấy cái mùng bèn đem ra giăng dọc theo phòng khách, để từng cặp sinh-viên chúng tôi và anh cán-bộ có thể ngủ ngon giấc. Dường như là buổi tối hôm ấy tôi đã không nằm mơ thấy một điều gì cả. Mặc dù ngủ ở chỗ lạ, nhưng tôi đã không khó để tìm được giấc ngủ, sau một ngày đầy tiếng cười vui với các bạn trong sân trường Cao-đẳng Sư-phạm.

Khi chúng tôi thức dậy vào buổi sáng sớm thì đã nghe loa phóng thanh ầm-ĩ kêu gọi người dân tham-gia công-tác đổi tiền. Chúng tôi được chủ nhà mời ăn sáng tại chỗ và sau đó là tự phân công cho nhau những gì mà mình đã được chỉ-định phải làm. Anh cán-bộ ở dưới quê chỉ có một trách-nhiệm chủ-yếu là giám-sát, còn việc nhận tiền mới là do cán-bộ địa-phương đảm-trách, cho nên bốn người chúng tôi chỉ phải chịu trách-nhiệm về việc đổi tiền cho người dân. Chẳng bao lâu thì những người dân đã bắt đầu kéo tới trạm đổi tiền và được những cán-bộ địa-phương yêu-cầu xếp thành hàng cho có trật-tự. Người bạn tôi đếm tiền rồi ghi vào tờ giấy mà chuyển cho tôi. Nhiệm vụ của tôi là cầm cây kéo mà cắt một góc lớn của những tờ tiền cũ để xác nhận là chúng không còn giá-trị, và chuyển tờ giấy cho người thứ ba. Và cuối cùng tờ giấy được chuyển cho người thứ tư để yêu-cầu người dân ký nhận.

Theo quy định thì mười đồng tiền cũ sẽ được đổi thành một đồng tiền mới. Có những người dân không có nhiều tiền và tôi chỉ phải cắt những xấp tiền mỏng thật dễ-dàng. Nhưng cũng có một vài người có nhiều tiền mà tôi phải chia ra thành nhiều xấp mỏng mới cắt được. Có những tờ tiền đã cũ, đã mềm, cắt thật dễ; mà cũng có những tờ tiền còn mới toanh, khó cắt hơn, và dường như là người ta đã để dành lâu ngày lắm vậy. Trong lúc tôi cắt tiền như vậy thì thỉnh-thoảng cũng có những tiếng người xuýt-xoa rằng: “Trời ơi, tiền…! Trời ơi, ổng cắt tiền kìa…!” và tôi nhìn thấy kèm theo những tiếng kêu đó là biết bao nhiêu cặp mắt nhìn vào những tờ tiền đang bị cắt với vẻ nuối tiếc. Họ nhìn những tờ tiền đó và cảm thấy đau lòng, vì vừa mới đánh mất một gia-tài. Mà thật, nếu chưa có lệnh đổi tiền thì nó vẫn còn rất giá-trị nhưng chỉ sau một đêm thức giấc là những tờ tiền đó đã trở nên vô giá-trị, người ta không kịp chuẩn bị tâm-lý.

Qua hôm sau, tôi được biết rằng chúng tôi sắp được tập-trung lại và chuyển về trường như cũ để tiếp-tục việc học. Như vậy là công-tác của chúng tôi xem như đã hoàn-thành, mà lại còn có được những ngày nghỉ-ngơi thật thư-giãn, giống như đi du-lịch vậy. Theo kế-hoạch thì sáng ngày mai chúng tôi sẽ được đưa tới một nơi tập-trung của toàn khoa, và từ đó chúng tôi sẽ được chở về trường. Trong thời gian chờ đợi, tôi  không muốn bỏ qua cơ-hội nầy để đi thăm một người bạn Công-giáo có đức tin mạnh-mẽ mà chúng tôi đã nghe nhắc tới và biết được cả địa-chỉ của chị, mặc dù chưa bao giờ gặp nhau.

Cho nên buổi tối hôm đó, tôi có đi bộ tới căn nhà của chị ấy và chúng tôi đã nhận ra nhau trong sự vui mừng. Chị là một người con gái khá xinh-đẹp với nước da hơi ngâm và luôn nở nụ cười trong lúc nói chuyện với tôi. Chị nói rằng đã nghe nói về tôi, và tôi cũng nói rằng mình có nghe các anh em Tin-lành trong trường CĐSP nói về chị. Chị đã tỏ ra rất vui mừng về cuộc viếng thăm nầy và cũng hết lời ca-ngợi đức-tin cũng như đời sống của các anh em Tin-lành mà chị được biết trong CĐSP. Vì là một người Công-giáo cấp tiến cho nên đức tin của chị cũng gần giống như những người Tin-lành, và chúng tôi đã có dịp trò chuyện với nhau thật lâu trong buổi tối hôm ấy với đầy sự vui-vẻ.

Khi tôi đi bộ trở về trạm thì thấy là cửa nhà đã đóng với ánh đèn dầu leo-lét, có lẽ là vì đã khá khuya cho nên mọi người đã đi ngủ ở một huyện ngoại thành như thế nầy. Còn tôi thì không có đồng hồ, mà cũng không quan tâm cho lắm tới giờ-giấc, nhưng chỉ muốn có một kỷ-niệm đẹp với một người chị em trong Chúa mà thôi. Tôi gõ cửa và anh bạn trong lớp đã ra mở cửa cho tôi với dáng vẻ không hài lòng. Thật ra thì chúng tôi chưa bao giờ quy-định với nhau về giờ giấc, và các bạn trong lớp biết rằng tôi làm việc rất nghiêm-chỉnh, cho nên anh ta cũng không thể nào bắt-bẻ được tôi. Dù vậy, sau nầy anh ta đã tố-cáo tôi tội “đi về khuya” và giáo-viên chủ-nhiệm đã đồng ý hạ bậc về thành-tích công-tác của tôi, nhưng tôi cũng không lấy làm quan-tâm cho lắm. Khi nhìn thấy một dãy mùng trắng mà hai cô sinh-viên và anh cán-bộ đã chui vào thì tôi biết rằng có lẽ đã khá khuya, khoảng chừng 10 giờ tối, tôi không bật đèn điện lên, và cứ ngồi yên trên ghế để cầu-nguyện.

Bất ngờ có một tiếng nói từ chiếc mùng ở ngay đó vọng ra. Tôi biết đó là anh cán-bộ đối-tượng Đảng ở quê lên. Anh ấy vẫn chưa ngủ và muốn có một cơ-hội để trao đổi với tôi về vấn-đề đức tin, vì sau ngày mai thì có thể chúng tôi sẽ khó có cơ-hội để gặp lại nhau. Thì ra là trong lúc tôi chưa trở về thì những người bạn của tôi đã nói cho anh ấy biết về đức tin của tôi, mà trong đó có cả anh bạn ra mở cửa cho tôi là một người đang tìm cách vào Đoàn. Tôi đã được nhà trường CĐSP mời tham gia lớp đối tượng đoàn đầu tiên của trường, nhưng tôi đã từ chối dứt khoát với lý do là nó không thích hợp với đức tin của mình. Có lẽ các bạn của tôi muốn nhờ anh đối-tượng Đảng nầy để chất-vấn về đức tin của tôi chăng?

Anh hỏi:

- Tôi nghe nói rằng anh là một người Tin-lành?

- Dạ, đúng vậy!

- Hình như anh cũng đang học khoa Sinh-vật thì phải?

- Vậy thì anh có học về thuyết tiến-hóa chứ?

- Dạ, có!

- Nếu vậy thì sao anh lại tin Chúa được? Vì thuyết tiến-hóa nói rằng con người ra từ con khỉ chứ đâu phải do Chúa tạo ra?

Tôi trả lời:

- Thuyết tiến-hóa chỉ là một thuyết , anh à! Trên thế-giới nầy không phải chỉ có một thuyết tiến-hóa của Darwin, mà còn có nhiều thuyết tiến-hóa khác, kể cả vô-thần lẫn hữu-thần. Nhưng nói chung là khoa-học vẫn chưa thể kiểm-chứng được tất cả những gì mà các lý-thuyết ấy nói, cho nên nó vẫn còn gọi là “thuyết”. Bởi vậy mà chúng ta không thể dựa vào một lý-thuyết để xác-định một điều gì cả!

Anh ấy có vẻ hiểu được những gì tôi nói qua một vài giây yên lặng. Rồi anh lại hỏi tiếp:

- Nhưng tại sao anh lại tin là có Chúa?

Tôi đáp:

- Vì Ngài là một nhân-vật lịch-sử!

Anh hỏi:

- Biết đâu người ta chỉ dựa vào lịch-sử để tạo ra Chúa thì sao?

Tôi hỏi ngược lại anh:

- Vậy anh có tin rằng vua Quang-Trung đã từng đại phá quân Thanh không?

Anh trả lời:

- Đương nhiên rồi, vì đó là lịch-sử!

Tôi hỏi tiếp:

- Vậy tại sao anh lại không tin vào một nhân-vật lịch-sử là Chúa Giê-su?

Một vài giây yên lặng trôi qua, có thể là để cho anh ấy suy nghĩ. Tôi nói thêm:

- Việc vua Quang-Trung đại phá quân Thanh chỉ là lịch-sử của Việt-Nam thôi, mà anh tin. Vậy thì Chúa Giê-su là một nhân-vật lịch-sử của thế-giới mà anh lại không tin sao?

Một vài giây yên lặng tiếp tục trôi qua. Tôi lại nói:

- Lịch sử cũng là một khoa học. Nếu anh chỉ tin nơi những gì xảy ra trong phòng thí-nghiệm, mà lại không tin vào lịch-sử, thì anh cũng là một kẻ phản khoa-học!

Một vài giây nữa lại trôi qua. Tôi hỏi:

- Anh có biết năm nay là năm mấy không?

- Thì năm 1978.

- Vậy anh có biết rằng điều đó có nghĩa là Chúa đã giáng-sinh đã được 1978 năm không?

Tôi tiếp:

- Người ta đã chọn năm giáng-sinh của Chúa là năm 0, và tính từ đó cho tới nay đã được 1978 năm rồi. Đây là một sự kiện lịch-sử và mang tầm-cỡ quốc-tế, anh có còn thắc-mắc gì về việc ấy không?

Anh không trả lời câu hỏi của tôi mà lại muốn chuyển qua một vấn đề khác:

- Nhưng nếu có Chúa thì tại sao lại cần tới những cột thu lôi trên các đỉnh nhà thờ chứ? Những cột thu lôi ấy để ngăn sét đánh vào nhà thờ, và điều đó chứng tỏ là không có Chúa.

Tôi nói:

- Kinh-thánh có chép lời Chúa phán rằng: “Trời là ngai ta, đất là bệ chân ta. Các ngươi sẽ xây nhà thể nào cho ta?” Như vậy thì vũ-trụ nầy còn không thể chứa đựng nổi Chúa, vì Ngài là Đấng đã sáng-tạo vũ-trụ. Cho nên, nhà thờ chỉ là nơi mà những con dân Chúa nhóm lại để thờ-phượng Chúa, chứ đâu phải là nơi ở của Ngài đâu.

Anh lại chuyển qua một câu hỏi khác:

- Nếu một người con Chúa phạm tội, rồi sau đó đi xưng tội với linh-mục thì được tha-thứ. Như vậy thì đó có phải là một hình-thức khuyến-khích phạm tội hay không?

Tôi nói:

- Kinh-thánh không bao giờ nói rằng hễ đi xưng tội thì được tha thứ đâu. Ngược lại, theo lời Chúa thì một người chỉ được tha-thứ khi người đó ăn-năn thật lòng. Mà ăn-năn thật lòng có nghĩa là không còn muốn phạm tội nữa. Như vậy thì sự xưng tội sẽ giúp cho người ta nhận ra tội-lỗi của mình rõ hơn và từ bỏ nó. Điều đó khiến cho những người con thật của Chúa ngày càng ít phạm tội hơn. Như vậy thì đạo Chúa không khuyến-khích việc phạm tội, mà kêu gọi việc ăn-năn và từ bỏ tội-lỗi.

Lại một vài giây yên lặng. Anh ta lại hỏi:

- Nếu có hai người con Chúa: một người đi tàu từ Bắc vô Nam, và một người đi tàu từ Nam ra Bắc. Cả hai người đó đều cầu xin Chúa cho tàu đi được thuận buồm xuôi gió, thì Chúa phải làm sao? Điều đó cũng chứng tỏ là không có Chúa.

Tôi nói:

- Trong Kinh-thánh không bao giờ nói rằng Chúa sẽ nhậm tất cả những lời cầu xin của con cái Ngài, mà chỉ nhậm lời những người nào kính sợ Ngài. Cho nên trong hai người ấy, nếu người nào kính sợ Chúa và có một mục đích chính-đáng, thì Ngài sẽ nhậm lời cầu xin của họ. Còn người nào không kính sợ Chúa mà chỉ muốn đi du-lịch phung-phí, hoặc đi làm giàu bất chính, thì Ngài sẽ không nhậm lời cầu xin của họ. Cho nên, chúng ta chỉ nên cầu nguyện cho những điều gì thánh-thiện và có ích cho mọi người, chứ không nên cầu xin cho những ý riêng bất chính của mình.

Sau một vài giây yên lặng, anh ta lại hỏi tiếp:

- Nhưng nếu Chúa đã bị đóng đinh và đã chết, thì làm sao mà Chúa có thể ban phước cho ai được chứ?

Tôi trả lời:

- Chúa chịu bị đóng đinh trên thập-tự-giá không phải là vì tội-lỗi của Ngài, mà là để chuộc tội cho nhân loại. Nhưng sau ba ngày thì Chúa đã sống lại vào ngày đầu tuần và ngày nay cả thế giới đều gọi ngày đó là Chúa-nhật. Chúa-nhật có nghĩa là “ngày của Chúa”, mà cho dù người ta có muốn né chữ Chúa mà đổi thành chữ Chủ thì ý nghĩa của nó vẫn không thay đổi. Bởi vì hai chữ Chủ và Chúa đồng nghĩa với nhau. Trong một xã hội vô-thần như chúng ta mà người ta còn không dám dùng tới một chữ nào khác, thì anh phải biết rằng sự kiện lịch-sử đó mang tầm cỡ quốc-tế như thế nào!

Khi nhắc tới vấn đề vô-thần, tôi cảm thấy có phẫn uất nên hơi nói lớn tiếng. Anh bèn trấn an tôi rằng:

- Anh không nên căng-thẳng như vậy, vì tôi chỉ muốn trao đổi thôi!

Tôi gật đầu đồng ý và xin lỗi anh, cũng như chờ nghe câu mà anh muốn hỏi tiếp.

- Tôi thấy người ta thường hay làm những bức tượng hình Chúa với hai cánh tay giơ ra để ban phước. Tại sao Chúa chỉ ban phước cho những người con của Chúa, mà lại không ban phước cho cả thế-giới?

Tôi nói:

- Chúa giơ tay ra là để ban phước cho cả thế giới đó chứ. Nhưng chỉ có những người nào bằng lòng nhận lấy, thì phước hạnh đó mới được ban cho họ. Cũng như tôi có thể tặng cho anh một món quà, nhưng món quà đó vẫn chưa thuộc về anh, cho tới khi nào mà anh đã đưa tay ra để nhận lấy, thì nó mới thuộc về anh. Anh hiểu chứ?

Tôi lại nói tiếp:

- Hiện nay Chúa vẫn đang chờ đợi để ban phước cho anh, miễn là anh giơ tay ra để đón nhận. Khi đó thì cuộc đời của anh sẽ được Chúa thay đổi, một sự đổi mới từ trong ra ngoài, và anh sẽ thấy rằng Chúa có thật…

Anh im lặng, lát sau mới nói:

- Thôi anh cũng nên đi ngủ đi, vì trời đã khuya rồi…

Tôi đồng ý và chui vào mùng để ngủ. Tôi nghĩ rằng hai cô nữ sinh-viên và anh bạn của tôi đã ngủ lâu rồi, trong đêm tối, đang lúc tôi và anh cán-bộ kia nói chuyện với nhau. Đó là một giấc ngủ mà tôi cảm thấy mãn-nguyện vì chuyến công-tác của tôi lần nầy không phải là vô-ích. Ít ra là tôi đã được ghé thăm một người chị em Công-giáo và tương giao một cách thỏa lòng, rồi sau đó tôi lại còn được làm chứng-nhân cho một anh cán-bộ nữa chứ. Tôi nghĩ rằng đó là một người tốt, trung thực, nhưng đã bị nhồi nhét bởi những ý tưởng vô-thần rẻ tiền mà anh không biết là nó sai lầm. Nhưng ước gì qua đêm nay, anh sẽ có dịp suy nghĩ lại và một ngày nào đó sẽ bước tới Nhà thờ…

Chúng tôi thức dậy vào buổi sớm và sau khi đã được đãi ăn sáng một lần cuối thì cả bốn người cùng lên đường ra nơi tập trung. Anh cán-bộ cũng ra nơi tập-trung ấy, nhưng anh không đi chung với chúng tôi mà đi bằng một phương tiện khác.

Tới bấy giờ tôi mới chợt nhớ lại là mình có để dành được mười mấy đồng còn mới ở trong tủ. Nhưng ôi thôi, nó đã trở nên vô giá trị mất rồi, qua đợt đổi tiền lần nầy. Bởi vì người nhà tôi không biết tới số tiền ấy mà tôi thì cũng không ngờ tới chuyện đổi tiền nên đâu có mang theo đâu. Nhưng cũng không sao, vì mọi sự đều nằm trong ý Chúa mà. Có lẽ Ngài sẽ bù đắp cho tôi bằng một cách nào đó, như số tiền bồi dưỡng mà chúng tôi sẽ nhận được cho chuyến công-tác nầy vậy…

Bỗng một cô sinh-viên cười tươi và nói với tôi:

- Tối hôm qua anh giảng đạo đó hả…?

Thì ra là cô ấy vẫn chưa ngủ vào tối qua, trong khi tôi và anh cán-bộ trao đổi về niềm tin, mà có thể là cả cô kia và anh bạn tôi cũng nghe nữa, cho dù là họ chỉ im lặng chứ không nói gì. Cô bạn lại tiếp tục nói với vẻ mặt tươi-tắn:

- Anh nói hay quá trời! Vậy mà từ trước cho tới nay tui cứ tưởng là vô-thần đúng chứ! Bây giờ thì tui mới thấy…

Một niềm vui có nhen lên ở trong lòng tôi, không những vì tôi đã làm chứng-nhân cho một vài người, mà vì trong số ấy có ít nhất là một người đã nhận thức được vấn-đề nữa. Tôi cũng không muốn nói gì thêm, vì những lời mà cô bạn nói ra đã đầy-đủ tất cả. Hơn nữa, con đường không xa và gập-ghềnh đã khiến cho chúng tôi không thể nói chuyện nhiều với nhau được. Tôi mong rằng sau khi chúng tôi đã chia tay và ra trường thì một ngày nào đó cô ấy sẽ tiếp nhận Chúa ở một Hội-thánh nào đó gần nhà mình, nơi thôn quê…

Saigon, Việt-Nam
10/11/2016
Nắng Ấm Mùa Xuân

2407 lượt xem
Các bài trước
MỘT THỤY SĨ Ở GIỮA VIÊT NAM - Nắng Ấm Mùa Xuân (08/11/2016)
GIỌT NƯỚC MẮT CỦA ĐẤNG TẠO HÓA - Thiên Quốc (13/10/2016)
CUỘC PHIÊU LƯU CỦA HAI HẠT LÚA - Uông Nguyễn (26/09/2016)
NẾU BIẾT TRĂM NĂM LÀ HỮU HẠN - Hải Yến (14/09/2016)
44 - NƠI NỖI ĐAU DỪNG LẠI - Hải Yến (05/08/2016)
43 - ƯỚC MƠ MÀU THIÊN THANH - Diên Vĩ (03/08/2016)
42 - THẰNG MÓC BỌC VÀ CÁI NẮP CỐNG – Thiên Quốc (19/07/2016)
41 - ĐÀO NHỮNG CÁI GIẾNG NỨT – Ngân Võ (19/07/2016)
40 - BẠN CHỌN ĐỨNG BÊN NÀO CỦA THẬP TỰ GIÁ – Hải Yến (19/07/2016)
39 - PHẢI TÌM VỀ - Nguyễn J (19/07/2016)
Thánh Kinh Trắc Nghiệm 2000  
THÁNH KINH TRẮC NGHIỆM 2000 - Bài 57
 
Giới Thiệu Nhạc Thánh Mới  
CHÚC TÔN DANH THÁNH NGÀI - Ca Khúc An Bình
 
Truyện Ngắn & Bài Viết  
SỰ KIỆN CHÚA GIÁNG SINH
 
Cùng Suy Gẫm Với Mục Sư Lữ Thành Kiến  
CHÀNG TỪ NHÃ CA BƯỚC RA
 
Tạ Ơn Chúa  
Bài làm chứng: VƯƠNG TRÀ MY
 
Dưỡng Linh  
Món Quà Không Sao Tả Xiết của Thiên Chúa Trong Giáng Sinh
 
Tin Tức  
CHƯƠNG TRÌNH 2 - Christmas Love Event 2019 – Chúa Tình Yêu Giáng Sinh
 
Thơ & Nhạc  
KHI CON TRẺ SINH RA
 
VHope  
GẶP CHÚA
 
Kinh Thánh  
KINH THÁNH TÂN ƯỚC: Sách KHẢI HUYỀN
 
Đức Tin  
TIN TỨC TỐT LÀNH CHO BẠN HÔM NAY!
 
Phát Thanh Tin Lành Toronto  
PHÁT THANH TIN LÀNH TORONTO Dec 07 2019
 
Góc của Ađam & Êva  
HÃY LẮNG NGHE NHAU BẰNG TRÁI TIM
 
Kịch Cơ Đốc  
NẾU CHỈ CÒN 1 NGÀY....
 
Nghiệm và Sống  
Cầu Nguyện Không Thôi
 
Nhận Được & Giới Thiệu  
NẾP SỐNG MỚI - Đám Tiệc hay Đám Tang
 
Tin Lành Media  
Lễ Cung Hiến Thánh Đường HTTL Tây Bắc
 
Thánh Kinh Giải Đáp  
CƠ ĐỐC NHÂN CÓ TIN VÀO BÁC SĨ?
 
Phút Suy Tư (PowerPoint Slide Show)  
KHI TÔI QUỲ NƠI CHÂN CHÚA
 
Khoa Học Minh Họa  
Đà Điểu
 
Tài Liệu  
BỨC TRANH CƠ ĐỐC GIÁO TOÀN CẦU 2019
 
Hội Thánh Truyền Giáo Trên Đường Dây  
XƯNG CÔNG CHÍNH BỞI ĐỨC TIN - MS Nguyễn Thới Lai
 
Giải Ảo Tâm Linh  
Giải Ảo Tâm Linh - Thuốc Chữa Bệnh Sợ
 
Bạn Hữu Âm Nhạc  
CHÚA XUÂN
 
Nhật Ký Truyền Giáo  
MUỐI CỦA ĐẤT
 
Chia Sẻ Phim & Ảnh  
Con Tàu Nô-ê đã tìm thấy và cơn Đại Hồng Thủy trong Kinh Thánh là có thật
 
Cuộc Thi Viết Nhạc Thánh  
CHUNG KẾT CUỘC THI VIẾT NHẠC THÁNH 2015
 
Cuộc Thi Viết Truyện Ngắn  
THÔNG BÁO MỚI VỀ TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN & NHẠC THÁNH VIẾT CHO NIỀM TIN 2016
 
Hoa Tư Tưởng  
HOA TƯ TƯỞNG 29
 
Sưu Tầm  
“BỚ SỰ CHẾT, ĐÂU LÀ SỰ ĐẮC-THẮNG CỦA MÀY?”
 
Website Cơ Đốc  
GIỚI THIỆU WEBSITE CƠ ĐỐC